I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng là một trong những chức năng lãnh đạo đặc biệt quan trọng, giữ vai trò bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động trong toàn Đảng, góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Có kiểm tra thì công việc mới chạy", coi kiểm tra là một khâu không thể tách rời trong toàn bộ quá trình lãnh đạo của Đảng. Quan điểm đó đến nay vẫn giữ nguyên giá trị, đồng thời tiếp tục được bổ sung, phát triển trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm soát quyền lực.
Thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp cùng với yêu cầu xây dựng lực lượng Công an nhân dân "tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả" đã đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng trong Công an thành phố Đồng Nai. Khi thẩm quyền của Công an cấp xã được mở rộng, phạm vi quản lý ngày càng lớn, tính chất nhiệm vụ ngày càng phức tạp thì nguy cơ phát sinh sai phạm, lạm dụng quyền lực hoặc buông lỏng quản lý cũng gia tăng nếu thiếu cơ chế kiểm soát hữu hiệu. Điều đó cho thấy, mô hình kiểm tra truyền thống chủ yếu tập trung vào phát hiện và xử lý vi phạm sau khi xảy ra không còn đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản trị hiện đại. Thực tiễn đòi hỏi công tác kiểm tra, giám sát phải chuyển mạnh sang phòng ngừa từ sớm, cảnh báo từ xa, nhận diện rủi ro, kiểm soát quyền lực và đồng hành cùng quá trình lãnh đạo của cấp ủy.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Ngày 07/4/2026, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Trung ương về lĩnh vực kiểm tra, giám sát trong giai đoạn phát triển mới, đánh dấu bước phát triển trong tư duy lý luận của Đảng. Nếu như trước đây trọng tâm chủ yếu là hoàn thiện quy trình, quy định và nâng cao chất lượng thực hiện các nhiệm vụ theo Điều lệ Đảng thì Nghị quyết số 05-NQ/TW đã mở rộng phạm vi tiếp cận, xác lập công tác kiểm tra, giám sát là một phương thức lãnh đạo của Đảng, đồng thời là công cụ kiểm soát quyền lực, quản trị rủi ro và quản trị tổ chức trong điều kiện chuyển đổi số.
Điểm đột phá của Nghị quyết số 05-NQ/TW không chỉ nằm ở việc bổ sung các nhiệm vụ, giải pháp mới mà trước hết là đổi mới tư duy lãnh đạo đối với công tác kiểm tra, giám sát. Kiểm tra, giám sát không còn được nhìn nhận như hoạt động diễn ra sau quá trình lãnh đạo mà trở thành một bộ phận hữu cơ trong toàn bộ chu trình lãnh đạo của cấp ủy; chuyển mạnh từ tư duy "kiểm tra để xử lý" sang "kiểm tra để phòng ngừa, cảnh báo và bảo vệ tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên"; từ quản lý chủ yếu "dựa trên kinh nghiệm" sang quản trị "dựa trên dữ liệu, phân tích và dự báo"; từ kiểm tra theo kế hoạch định kỳ sang giám sát thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm. Đây chính là bước chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại, phù hợp với yêu cầu xây dựng Đảng cầm quyền trong bối cảnh mới.
Đối với lực lượng Công an nhân dân, việc triển khai Nghị quyết số 05-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Là lực lượng vũ trang trọng yếu, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng, chống tội phạm, lực lượng Công an nhân dân được giao nhiều quyền hạn đặc thù, đồng thời cũng phải chịu yêu cầu kiểm soát quyền lực ngày càng chặt chẽ. Vì vậy, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng mà còn là giải pháp quan trọng để phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, kiểm soát việc thực thi quyền lực, xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và ý thức trách nhiệm cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh. Quán triệt tinh thần đó, Đảng ủy Công an thành phố Đồng Nai đã ban hành Kế hoạch số 108-KH/ĐUCA ngày 07/7/2026 nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 05-NQ/TW và Chương trình hành động số 17-CTr/ĐUCA ngày 17/6/2026 của Đảng ủy Công an Trung ương, xác định rõ yêu cầu đổi mới toàn diện về nhận thức, phương pháp và cơ chế tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát. Kế hoạch nhấn mạnh việc chuyển từ tư duy "bị động" sang "chủ động"; từ xử lý "vi phạm" sang "phòng ngừa" rủi ro; từ giám sát theo vụ việc sang giám sát thường xuyên; đồng thời coi tự kiểm tra, tự giám sát là trách nhiệm chính trị của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên.
Nhiệm kỳ 2020 - 2025, tại Đảng bộ Công an thành phố Đồng Nai đã tạo ra những chuyển biến tích cực, là cơ sở thực tiễn để kiểm chứng giá trị của Nghị quyết số 05-NQ/TW. Nhiệm kỳ qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp trong Công an Đồng Nai đã thực hiện 123 cuộc kiểm tra đối với tổ chức đảng, kiểm tra 266 lượt đảng viên; 07 cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; giám sát chuyên đề 134 tổ chức đảng, 456 đảng viên. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kiểm tra tài chính đảng, giám sát kê khai tài sản, xem xét, đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật đảng được triển khai đồng bộ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Công an Đồng Nai. Từ kết quả trên cho thấy, xu hướng chuyển mạnh từ kiểm tra mang tính xử lý sang giám sát chủ động, phòng ngừa và kiểm soát quyền lực, đúng tinh thần đổi mới mà Nghị quyết số 05-NQ/TW đã xác lập.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cũng đặt ra những yêu cầu mới. Việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong điều kiện tổ chức bộ máy mới; nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo rủi ro; đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò tự kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát trong thời gian tới.
II. GIÁ TRỊ LÝ LUẬN MỚI CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 05-NQ/TW
Nghị quyết số 05-NQ/TW là văn kiện chuyên đề đầu tiên của Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng trong giai đoạn phát triển mới, đánh dấu bước phát triển về tư duy lý luận trong công tác xây dựng Đảng. Trước đây, công tác kiểm tra, giám sát chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ thực hiện chức năng giám sát chuyên đề, kiểm tra chấp hành, phát hiện, xử lý vi phạm thì Nghị quyết số 05-NQ/TW đã mở rộng nhận thức, xác định công tác kiểm tra, giám sát là một phương thức lãnh đạo của Đảng, là cơ chế kiểm soát quyền lực, là phương pháp quản trị hiện đại, gắn với yêu cầu chuyển đổi số.

Nghị quyết số 05-NQ/TW – “thanh bảo kiếm” đổi mới công tác kiểm tra, giám sát của Đảng
Nghị quyết số 05-NQ/TW – “thanh bảo kiếm” đổi mới công tác kiểm tra, giám sát của Đảng
Nghị quyết số 05-NQ/TW không chỉ bổ sung các nhiệm vụ hay hoàn thiện quy trình nghiệp vụ kiểm tra, giám sát mà đã chuyển đổi tư duy từ "kiểm tra như một hoạt động nghiệp vụ" sang "kiểm tra như một phương thức quản trị của Đảng". Theo đó, kiểm tra, giám sát không còn là hoạt động "hậu kiểm" xử lý vi phạm đã phát sinh, mà trở thành cơ chế đồng hành với quá trình lãnh đạo, bảo đảm quyền lực được thực thi đúng nguyên tắc, đúng quy định và nhằm mục tiêu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên; đáp ứng yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại. Những điểm phát triển về tư duy lý luận của Nghị quyết số 05-NQ/TW có thể khái quát trên năm nội dung sau:
Thứ nhất, Khẳng định công tác kiểm tra, giám sát là phương thức lãnh đạo của Đảng, không chỉ là chức năng kiểm soát
Trong lý luận xây dựng Đảng, phương thức lãnh đạo của Đảng được hiểu là tổng thể các hình thức, biện pháp và cơ chế để chuyển hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành hành động thống nhất trong toàn hệ thống chính trị. Công tác kiểm tra, giám sát không chỉ nhằm đánh giá việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị hay xử lý vi phạm, mà là cơ chế phản hồi, giúp cấp ủy nhận diện những bất cập trong tổ chức thực hiện, kịp thời điều chỉnh chủ trương, hoàn thiện phương thức lãnh đạo và nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức đảng.
Thực tiễn thời gia quan cho thấy, công tác kiểm tra, giám sát chủ yếu là thực hiện các nhiệm vụ được quy định trong Điều lệ Đảng; trọng tâm là giám sát chuyên đề, kiểm tra chấp hành, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, xem xét, đề nghị xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên.
Nghị quyết số 05-NQ/TW tạo bước chuyển quan trọng khi xác định công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành xuyên suốt quá trình lãnh đạo, từ xây dựng nghị quyết, cụ thể hóa chủ trương, tổ chức thực hiện, theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả đến sơ, tổng kết và hoàn thiện chính sách. Như vậy, kiểm tra, giám sát không đứng ở "điểm cuối" của quá trình lãnh đạo mà trở thành một bộ phận của quá trình lãnh đạo, bảo đảm cho mọi chủ trương của Đảng được triển khai đúng mục tiêu, đúng định hướng và đạt hiệu quả đề ra. Nếu thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên, cấp ủy sẽ khó nhận diện kịp thời những hạn chế, bất cập nảy sinh trong quá trình triển khai; ngược lại, khi công tác kiểm tra, giám sát được đặt ngay trong quá trình lãnh đạo thì mọi thông tin phản hồi từ thực tiễn sẽ trở thành cơ sở để điều chỉnh phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng quản trị, hạn chế sai phạm ngay từ đầu.
Thực tiễn nhiệm kỳ 2020 - 2025, tại Đảng bộ Công an thành phố Đồng Nai đã minh chứng sự chuyển biến đó, số lượng các cuộc kiểm tra, giám sát của cấp ủy tăng 09 cuộc so với nhiệm kỳ 2015 - 2020; nội dung kiểm tra không giới hạn ở việc giám sát chuyên đề, kiểm tra chấp hành nghị quyết, chỉ thị mà đã mở rộng sang các lĩnh vực có nguy cơ phát sinh tiêu cực, tham nhũng như trách nhiệm nêu gương, tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố vụ án hình sự, xử lý vi phạm hành chính, công tác tạm giữ, tạm giam, việc thực hiện quy trình công tác của lực lượng Cảnh sát giao thông,… Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thực hiện 123 cuộc kiểm tra đối với tổ chức đảng, kiểm tra 266 đảng viên, góp phần phát hiện những hạn chế trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, qua đó kịp thời chấn chỉnh, khắc phục ngay từ cơ sở.
Sự thay đổi này đã phản ánh quá trình chuyển từ mô hình quản lý dựa trên tuân thủ sang quản trị dựa trên hiệu quả. Kiểm tra không chỉ trả lời câu hỏi "có chấp hành hay không" mà còn phải trả lời câu hỏi "việc lãnh đạo đã đạt mục tiêu hay chưa, tồn tại những rủi ro nào và cần điều chỉnh nội dung gì". Đây chính là điểm phát triển mới của Nghị quyết số 05-NQ/TW, làm công tác kiểm tra, giám sát trở thành công cụ quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong điều kiện phát triển mới.
Thứ hai, Chuyển từ tư duy xử lý vi phạm sang tư duy phòng ngừa, cảnh báo và quản trị rủi ro
Nghị quyết số 05-NQ/TW là sự chuyển đổi về tư duy đối với mục tiêu của công tác kiểm tra, giám sát. Trước đây, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát thường được đánh giá thông qua số lượng vụ việc được phát hiện, số tổ chức đảng, đảng viên bị xử lý kỷ luật thì Nghị quyết số 05-NQ/TW đã xác định cách tiếp cận mới: giá trị cao nhất của công tác kiểm tra, giám sát không phải là phát hiện nhiều vi phạm, mà là làm cho vi phạm không có điều kiện phát sinh hoặc được nhận diện, ngăn chặn ngay từ khi mới xuất hiện. Đây là bước chuyển từ tư duy "kiểm tra để xử lý hậu quả" sang tư duy "kiểm tra để phòng ngừa, cảnh báo và quản trị rủi ro", phù hợp với yêu cầu xây dựng Đảng trong điều kiện phát triển mới.
Theo tư duy truyền thống, hoạt động kiểm tra, giám sát chủ yếu được tiến hành sau khi xác định có dấu hiệu vi phạm hoặc khi phát sinh vụ việc cần xem xét. Trong khi đó, Nghị quyết số 05-NQ/TW yêu cầu công tác kiểm tra, giám sát phải chủ động nhận diện những nguy cơ tiềm ẩn trong quá trình thực thi quyền lực, kịp thời phát hiện những biểu hiện lệch chuẩn, những "điểm nghẽn" trong tổ chức thực hiện và những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực để có biện pháp chấn chỉnh từ sớm, từ xa. Như vậy, trọng tâm của kiểm tra, giám sát không còn là xử lý hành vi đã xảy ra mà là kiểm soát nguy cơ có thể dẫn đến vi phạm.
Thực tiễn nhiệm kỳ 2020 - 2025 tại Đảng bộ Công an thành phố Đồng Nai, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã tổ chức 134 cuộc giám sát chuyên đề đối với tổ chức đảng, 456 đảng viên, tập trung vào các lĩnh vực có nguy cơ phát sinh vi phạm như thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, kê khai tài sản, thu nhập… Quy mô và phạm vi giám sát này cho thấy trọng tâm hoạt động của hệ thống kiểm tra đã chuyển mạnh sang giám sát thường xuyên, lấy việc phát hiện nguy cơ, cảnh báo và chấn chỉnh kịp thời làm mục tiêu chủ yếu. Kết quả 07 cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 04 tổ chức đảng và 03 đảng viên, tăng 06 cuộc so với nhiệm kỳ trước, cũng phản ánh sự chuyển biến trong phương thức phát hiện và xử lý vi phạm. Việc gia tăng kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm không nên được nhìn nhận đơn thuần là số lượng vụ việc tăng lên, mà cần được hiểu là năng lực nhận diện rủi ro và khả năng phát hiện sớm đã được nâng cao. Điều này cho thấy cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã chủ động hơn trong việc nắm tình hình, phân tích thông tin, phát hiện dấu hiệu bất thường để kiểm tra ngay từ đầu, hạn chế nguy cơ để vi phạm nhỏ tích tụ thành vi phạm nghiêm trọng.
Tinh thần đó đã được Đảng ủy Công an thành phố Đồng Nai cụ thể hóa trong Kế hoạch số 108-KH/ĐUCA khi xác định rõ yêu cầu đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát theo hướng chủ động nắm chắc tình hình, tăng cường giám sát thường xuyên, nhận diện nguy cơ, cảnh báo sớm và phòng ngừa vi phạm từ cơ sở. Theo đó, các cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra không chỉ tập trung vào những vụ việc đã phát sinh mà còn chú trọng theo dõi những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao như công tác cán bộ, thực hiện quy chế làm việc, trách nhiệm của người đứng đầu và việc chấp hành các nguyên tắc tổ chức của Đảng... Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu xây dựng cơ chế "phòng ngừa là chính, phát hiện từ sớm, xử lý từ đầu" góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực và giảm nguy cơ phát sinh vi phạm.
Thứ ba, Đặt công tác kiểm tra, giám sát trong tổng thể cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng
Nghị quyết số 05-NQ/TW đã xác đinh mối quan hệ hữu cơ giữa công tác kiểm tra, giám sát với kiểm soát quyền lực. Trước đây, kiểm tra, giám sát chủ yếu được nhìn nhận là công cụ để bảo đảm việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị và xử lý các hành vi vi phạm thì Nghị quyết số 05-NQ/TW đã mở rộng phạm vi tiếp cận khi xác định công tác kiểm tra, giám sát là một cơ chế quan trọng trong kiểm soát quyền lực. Đây là bổ sung về nội hàm của công tác kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Nghị quyết số 05-NQ/TW đã khẳng định công tác kiểm tra, giám sát không chỉ nhằm phát hiện vi phạm mà còn phải góp phần bảo đảm mọi quyền hạn được sử dụng đúng thẩm quyền, đúng quy trình, đúng trách nhiệm.
Nhiệm kỳ 2020 - 2025, Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an thành phố đã tiến hành 07 cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 04 tổ chức đảng và 03 đảng viên, tăng 06 cuộc so với nhiệm kỳ 2015 - 2020. Xét về số lượng, đây không phải là con số lớn nhưng đã thể hiện Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an thành phố đã chủ động hơn trong việc phát hiện dấu hiệu rủi ro và can thiệp ngay từ giai đoạn đầu, thay vì chỉ xử lý khi vi phạm đã gây hậu quả. Sự gia tăng các cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm phản ánh năng lực nắm tình hình, phân tích thông tin và nhận diện nguy cơ của Ủy ban Kiểm tra ngày càng được nâng cao, phù hợp với yêu cầu kiểm soát quyền lực trong điều kiện mới.
Bên cạnh đó, việc kiểm soát quyền lực không chỉ được thực hiện thông qua các cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm mà còn được triển khai đồng bộ thông qua các cơ chế giám sát, kiểm tra tài chính đảng và kiểm soát tài sản, thu nhập. Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, toàn Đảng bộ đã tổ chức 123 cuộc kiểm tra tài chính đảng, tăng 82 cuộc so với nhiệm kỳ trước; thực hiện 324 lượt đơn vị kê khai tài sản, thu nhập với 6.523 lượt cán bộ thuộc diện kê khai, đạt 100% theo quy định; đồng thời tiến hành 03 cuộc xác minh đối với 20 trường hợp, qua đó phát hiện 06 trường hợp có hạn chế, khuyết điểm để chấn chỉnh và xử lý theo quy định. Những kết quả này cho thấy công tác kiểm tra, giám sát đã từng bước mở rộng từ kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ sang kiểm soát tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và tính liêm chính trong thực thi quyền lực, phù hợp với yêu cầu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Quan điểm này đã được Đảng ủy Công an thành phố Đồng Nai cụ thể hóa trong Kế hoạch số 108-KH/ĐUCA thông qua yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát đối với những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác có nguy cơ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; đề cao trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu; đồng thời phát huy vai trò tự kiểm tra, tự giám sát của mỗi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Cách tiếp cận này cho thấy kiểm soát quyền lực không còn được hiểu là hoạt động kiểm tra đơn lẻ mà trở thành một cơ chế quản trị tổng hợp, kết hợp giữa phòng ngừa, giám sát, kiểm tra, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Thứ tư, Hình thành tư duy quản trị dựa trên dữ liệu và chuyển đổi số trong công tác kiểm tra, giám sát
Tính đột phá của Nghị quyết số 05-NQ/TW là đặt công tác kiểm tra, giám sát trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây là lần đầu tiên yêu cầu đổi mới công tác kiểm tra được gắn chặt với việc khai thác dữ liệu, ứng dụng công nghệ số và nâng cao năng lực phân tích, dự báo. Từ đây hoạt động kiểm tra, giám sát không chỉ dựa vào hồ sơ giấy, báo cáo định kỳ hoặc phản ánh của tổ chức, cá nhân mà từng bước chuyển sang khai thác dữ liệu điện tử, số hóa hồ sơ, phân tích thông tin đa chiều và xây dựng các cơ chế cảnh báo sớm. Kế hoạch số 108-KH/ĐUCA của Đảng ủy Công an thành phố cũng đã cụ thể hóa định hướng này thông qua yêu cầu tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, hoàn thiện quy trình, đồng thời đổi mới mạnh mẽ phương pháp kiểm tra, giám sát, tạo nền tảng để phát triển mô hình kiểm tra trên dữ liệu trong lực lượng Công an thành phố. Đây là chuyển dịch từ mô hình "kiểm tra theo kinh nghiệm" sang mô hình "kiểm tra dựa trên bằng chứng và dữ liệu", giúp nâng cao tính khách quan, kịp thời và hiệu quả của hoạt động kiểm tra, giám sát.
Thứ năm, Xây dựng văn hóa tự kiểm tra, tự giám sát và mở rộng trách nhiệm của toàn Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát
Trước đây công tác kiểm tra, giám sát thường được xem là nhiệm vụ chủ yếu của cấp ủy, ủy ban kiểm tra thì Nghị quyết số 05-NQ/TW đã mở rộng trách nhiệm đối với toàn Đảng. Mọi tổ chức đảng đều phải chủ động tự kiểm tra, tự giám sát; mỗi cán bộ, đảng viên phải coi tự kiểm tra, tự giám sát là trách nhiệm chính trị; người đứng đầu phải trực tiếp lãnh đạo, tổ chức và chịu trách nhiệm về hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát trong phạm vi được giao. UBKT các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã tiến hành 85 cuộc kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và 123 cuộc kiểm tra tài chính đảng, trong đó số cuộc kiểm tra tài chính tăng 82 cuộc so với nhiệm kỳ trước.
Đảng ủy Công an thành phố Đồng Nai đã cụ thể hóa rõ quan điểm này khi yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, nhất là người đứng đầu, phải coi kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ thường xuyên; đồng thời xác định mỗi đảng viên phải coi tự kiểm tra là trách nhiệm chính trị trước tổ chức đảng. Sự thay đổi này phản ánh bước phát triển quan trọng trong tư duy xây dựng Đảng. Kiểm tra không còn là hoạt động mang tính áp đặt từ bên ngoài mà trở thành một bộ phận của văn hóa lãnh đạo, văn hóa trách nhiệm và văn hóa liêm chính trong mỗi tổ chức đảng. Đây chính là cơ sở lý luận để các cấp ủy, tổ chức đảng, trong đó có Đảng bộ Công an thành phố Đồng Nai, cụ thể hóa Nghị quyết thành các cơ chế, quy trình và phương thức tổ chức thực hiện phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
III. CỤ THỂ HÓA NGHỊ QUYẾT SỐ 05-NQ/TW TRONG CÔNG AN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Một nghị quyết chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành nhận thức thống nhất, cơ chế lãnh đạo phù hợp và hành động cụ thể trong thực tiễn. Đối với Đảng bộ Công an thành phố Đồng Nai, việc triển khai Nghị quyết số 05-NQ/TW không được tiếp cận theo hướng thực hiện một nhiệm vụ riêng lẻ của Ủy ban Kiểm tra, mà được xác định là nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng bộ, gắn chặt với công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân và nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp.
Đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng
Đảng ủy Công an thành phố đã cụ thể hóa tư duy lãnh đạo của Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Thành ủy Đồng Nai thành cơ chế vận hành cụ thể, qua 04 nội dung sau:
Một là, Cụ thể hóa quan điểm của Trung ương thành chương trình hành động thống nhất trong toàn Đảng bộ
Ngay sau khi Nghị quyết số 05 được ban hành và chỉ đạo của Đảng ủy Công an Trung ương tại Chương trình hành động số 17-CTr/ĐUCA, Đảng ủy Công an thành phố đã ban hành Kế hoạch số 108-KH/ĐUCA nhằm cụ thể hóa đầy đủ các quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của Công an thành phố Đồng Nai. Điểm nổi bật trong quá trình cụ thể hóa là không sao chép máy móc các nội dung của Nghị quyết mà chuyển hóa thành những mục tiêu cụ thể, xác định rõ nhiệm vụ của từng cấp ủy, từng tổ chức đảng, từng cơ quan tham mưu và từng cán bộ, đảng viên. Kế hoạch triển khai xác định rõ yêu cầu đổi mới nhận thức, đổi mới phương pháp lãnh đạo, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu, phát huy vai trò của cấp ủy, ủy ban kiểm tra trong việc chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm; đồng thời gắn việc thực hiện Nghị quyết số 05 với các nhiệm vụ xây dựng lực lượng, chuyển đổi số và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị khác của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Hai là, Chuyển tư duy "kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm" thành cơ chế phòng ngừa, giám sát thường xuyên
Điểm nổi bật của việc cụ thể hóa Nghị quyết tại Công an thành phố Đồng Nai là sự thay đổi về tư duy tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát. Nếu trước đây hoạt động kiểm tra, giám sát thường tập trung vào các cuộc kiểm tra theo chương trình hoặc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức đảng, đảng viên thì Kế hoạch số 108-KH/ĐUCA đã xác định rõ yêu cầu chuyển mạnh sang phương thức chủ động nắm tình hình, tăng cường giám sát thường xuyên, nhận diện nguy cơ, cảnh báo sớm và phòng ngừa vi phạm ngay từ cơ sở. Điều này phản ánh sự thay đổi căn bản trong phương thức lãnh đạo của cấp ủy, ủy ban kiểm tra. Kiểm tra, giám sát không còn là hoạt động diễn ra sau quá trình lãnh đạo mà được tích hợp vào toàn bộ chu trình lãnh đạo, từ xây dựng nghị quyết, tổ chức thực hiện, theo dõi tiến độ, đánh giá kết quả đến điều chỉnh các giải pháp trong quá trình triển khai. Thay vì chờ phát sinh vi phạm để xử lý, cấp ủy chủ động nhận diện những lĩnh vực nhạy cảm, những khâu dễ phát sinh sai phạm, những địa bàn tiềm ẩn nguy cơ để tập trung giám sát, qua đó giảm thiểu khả năng phát sinh vi phạm và nâng cao hiệu quả phòng ngừa.
Ba là, Gắn công tác kiểm tra, giám sát với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm của người đứng đầu
Đảng ủy Công an thành phố đã xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu trong công tác kiểm tra, giám sát. Theo Kế hoạch số 108-KH/ĐUCA, cấp ủy các cấp phải trực tiếp lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát; người đứng đầu phải chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra trong phạm vi phụ trách; đồng thời mỗi tổ chức đảng, mỗi đảng viên phải coi tự kiểm tra là trách nhiệm chính trị thường xuyên.
Việc xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc kiểm soát quyền lực. Trong điều kiện phân cấp, phân quyền hiện nay, quyền hạn càng lớn thì yêu cầu kiểm soát quyền lực càng cao. Thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, khối lượng công việc của Công an cấp cơ sở ngày càng lớn, phạm vi giám sát ngày càng rộng, trong khi yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng cao đòi hỏi phương thức kiểm tra phải chuyển từ kiểm tra truyền thống sang quản trị hiện đại. Bởi vậy, công tác kiểm tra, giám sát không chỉ nhằm phát hiện sai phạm của cá nhân mà còn đánh giá trách nhiệm lãnh đạo, trách nhiệm quản lý và trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Cách tiếp cận này đã làm thay đổi nhận thức truyền thống về kiểm tra, giám sát. Trọng tâm không còn là xem xét từng hành vi đơn lẻ mà hướng đến đánh giá toàn diện hiệu quả thực thi quyền lực của tổ chức và cá nhân có thẩm quyền; qua đó góp phần xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, minh bạch và hiệu quả hơn trong lực lượng Công an nhân dân.
Bốn là, Đưa chuyển đổi số trở thành nền tảng của đổi mới công tác kiểm tra, giám sát
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, Đảng ủy Công an thành phố Đồng Nai xác định đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không thể tách rời việc ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu và số hóa quy trình nghiệp vụ. Kế hoạch số 108-KH/ĐUCA đặt ra yêu cầu tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong công tác kiểm tra, giám sát; từng bước số hóa hồ sơ, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra, nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công cụ phân tích dữ liệu để nâng cao khả năng dự báo, cảnh báo và hỗ trợ ra quyết định. Đây là bước phát triển có ý nghĩa chiến lược, bởi trong điều kiện quản lý hiện đại, dữ liệu trở thành nền tảng của hoạt động lãnh đạo và kiểm tra. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, liên thông và khai thác hiệu quả, hoạt động kiểm tra, giám sát sẽ chuyển từ phương thức kiểm tra, giám sát theo hồ sơ sang kiểm tra trên dữ liệu; từ đánh giá chủ yếu dựa trên kinh nghiệm sang đánh giá dựa trên bằng chứng khách quan; từ phản ứng sau vi phạm sang dự báo nguy cơ và cảnh báo sớm. Mặc dù quá trình này cần được triển khai từng bước, nhưng việc xác lập định hướng ngay từ đầu thể hiện tư duy tiếp cận hiện đại của Đảng ủy Công an thành phố Đồng Nai trong việc cụ thể hóa Nghị quyết số 05.
Nghị quyết số 05-NQ/TW đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Điểm mới nổi bật của Nghị quyết không chỉ nằm ở việc bổ sung nhiệm vụ, giải pháp mà quan trọng hơn là xác lập công tác kiểm tra, giám sát như một phương thức lãnh đạo của Đảng, gắn chặt với kiểm soát quyền lực, quản trị rủi ro, chuyển đổi số và xây dựng văn hóa tự kiểm tra trong toàn hệ thống chính trị. Từ thực tiễn Công an thành phố Đồng Nai có thể thấy, việc cụ thể hóa Nghị quyết số 05 không chỉ tạo ra những chuyển biến về số lượng hoạt động kiểm tra, giám sát mà quan trọng hơn là định hình một phương thức quản trị mới. Trong đó, công tác kiểm tra, giám sát từng bước được tích hợp vào toàn bộ chu trình lãnh đạo, gắn chặt với kiểm soát quyền lực, quản trị rủi ro và chuyển đổi số; qua đó góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và xây dựng lực lượng Công an thành phố Đồng Nai thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 07/4/2026 về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng.
2. Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương (2026), Chương trình hành động số 17-CTr/ĐUCA ngày 17/6/2026 về thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng trong Công an nhân dân.
3. Đảng ủy Công an thành phố Đồng Nai (2026), Kế hoạch số 108-KH/ĐUCA ngày 07/7/2026 về Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV vềsố 05-NQ/TW đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng trong Công an thành phố.
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023), Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.
6. Đảng ủy Công an thành phố Đồng Nai (2025), Báo cáo số 598-BC/ĐUCA ngày 15/4/2025 tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng, nhiệm kỳ 2020 - 2025.
Trần Ngọc Tú - Cơ quan UBKT